Một Đời Đam Mê - Trích CỘI RỄ (Alex Haley) - Phần 3

Đón trước mệnh lệnh của ông chủ, George-Gà nhảy xuống và quay lại tháo dây buộc đôi la thuê mà họ rong theo, rồi dẫn chúng đến chỗ chiếc xe thổ mộ mới. Một trong bốn người thợ da đen giúp anh thắng la vào xe, rồi quay lại nhập bọn với những người kia, họ không chú ý gì đến George-Gà nữa, cũng như anh chẳng buồn quan tâm đến họ; nói cho cùng, họ là những người da đen tự do mà ông chủ Lea thường nói là ông thấy gai mắt không chịu nổi. Sau khi đi vòng quanh chiếc xe mấy lần với cặp mắt long lanh và bộ mặt nở rộng một nụ cười, ông chủ bắt tay người chủ hiệu xe, cảm ơn lão và hãnh diện leo lên ghế của cỗ xe mới. Miệng chúc ông may mắn, người chủ hiệu xe đứng đó lắc lư đầu thán phục công trình của chính mình, trong khi ông chủ Lea dẫn đầu ra khỏi khu đất, với George-Gà theo sau trong chiếc xe cũ.

Trên quãng đường dài đánh xe về nhà - chiếc mũ quả dưa mới đặt trên ghế bên cạnh mình, cùng với đôi ghệt dạ sang trọng màu xám đã làm anh hụt đi một đô-la - George nhẩm nốt trong đầu danh sách những việc anh phải lo liệu trước khi đi New Orleans và bắt đầu nghĩ đến những thứ cần làm để đảm bảo cho mọi sự vẫn trôi chảy trong khi họ đi xa. Tuy biết rằng vắng anh, việc nhà sẽ khó khăn, anh vẫn tin rằng Matilda và Kizzy sẽ đủ sức đảm đương nhiệm vụ; và mặc dù bác Mingo không còn tháo vát lanh lợi như trước nữa, mỗi năm một thêm lẩm cẩm, George vẫn chắc chắn rằng ông lão có thể chăm nom đàn gà chu toàn cho đến khi anh trở về. Nhưng anh sớm muộn biết, anh sẽ cần một sự trợ lực lớn hơn khả năng đang suy của bác Mingo.

Dù thế nào di nữa, anh cũng phải tìm cách vượt được sự mù lòa của vợ và mẹ mình trước cái cơ hội hiếm có mà anh cảm thấy có thể mở ra cho cu Virgil, nhất là vì thằng bé đã gần sáu tuổi, chẳng bao lâu sẽ phải bắt đầu ra làm đồng. Trong lúc vắng nhà, anh đã nảy ra ý nghĩ là có thể giao cho Virgil giúp bác Mingo trông nom đàn gà - rồi cứ tiếp tục công việc sau khi họ trở về, đơn giản thế thôi - song anh vừa nêu ý kiến đó ra, Matilda đã đùng đùng phản đối: “Vậy thì để ông chủ mua đứa nào mà giúp bác í!” và Kizzy gay gắt xen vào: “Dững con gà í đã đánh cắp đi của gia đình này kháđủrồi!” Không muốn để xảy ra một cuộc xung đột mới với họ, anh không cố ép, nhưng nhất định không muốn thấy ông chủ có thể mua một người nào đó hoàn toàn xa lạ để đột nhập vào địa phận riêng của anh và bác Mingo.

Tuy nhiên, ngay cả nếu ông chủ không dại gì mà đưa một người ngoài vào, George cũng chưa dám chắc là bác Mingo có chấp nhận để Virgil giúp việc hay không, ông lão dường như ngày càng buồn bực từ khi gã phụ tá phát triển một quan hệ gần gũi với ông chủ hơn chính bản thân bác. Mới gần đây thôi, cay đắng vì nỗi không được phép cùng đi New Orleans với họ, bác Mingo đã nói rằng: “Mầy mấy ông chủ ngỡ có thể giao cho tau nuôi gà trong khi thầy trò mầy đi hả?” George ước sao bác Mingo hiểu cho rằng anh không dính gì vào những quyết định của ông chủ cả. Đồng thời, anh tự hỏi tại sao ông già lại không đơn giản nhìn thẳng vào cái thực tế là vào cái tuổi ngoài bảy mươi, ông chả còn hơi sức đâu mà đi ròng rã sáu tuần lễ, bất kể về hướng nào, gần như chắc chắn là bác sẽ ốm gục ở một quãng nào đó, đẻ thêm bao nhiêu vấn đề rắc rối cho anh và ông chủ. George hết lòng ước ao sao biết được cách làm cho bác Mingo đỡ khổ sở hơn về chuyện này hoặc ít ra cũng thôi đừng đổ tội cho anh về mọi sự nữa.

Cuối cùng, hai cái xe rẽ khỏi đường cái lớn và lăn bánh xuôi theo lối vào đồn điền. Gần tới đại sảnh, anh ngạc nhiên thấy bà Lea ra cửa trước và bước xuống bậc thềm. Lát sau, từ cửa sau, Malizy ló ra. Rồi anh trông thấy Matilda cùng các con, mẹ Kizzy, chị Sarah và bác Pompey hối hả từ các lều chạy tới. Cả bọn họ làm gì ở đây, vào chiều thứ năm - George tự hỏi - trong khi đáng lẽ phải ở ngoài đồng? Phải chăng họ háo hức muốn xem cỗ xe mới, đẹp đẽ, đến nỗi sẵn sàng liều mạng chịu cơn nổi giận của ông chủ. Rồi anh trông thấy vẻ mặt họ và biết không một ai quan tâm gì đến bất cứ một cái xe mới nào.

Khi thấy bà Lea tiếp tục bước tới chiếc xe của ông chủ, George ghìm cương dừng xe mình lại và, từ chiếc ghế tài cao, vươn người ra đằng trước để nghe cho rõ hơn những điều bà nói với ông chủ. George thấy người ông chủ giật nhổm lên thẳng đứng, trong khi bà chủ chạy trở lại phía nhà. Sững sờ, George nhìn ông chủ Lea từ chiếc xe mới trèo xuống và chậm rãi, nặng nề bước lộn lại phía anh. Anh thấy bộ mặt tái nhợt đi vì xúc động đột ngột - và anh chợt hiểu ra! Câu nói của ông chủ vẳng tới anh như từ một chốn xa: “Mingo chết”.

Sụp xuống tựa mạng sườn vào chiếc ghế xe, George khóc tu tu lên như chưa từng khóc thế bao giờ. Anh chỉ mơ hồ cảm thấy ông chủ và bác Pompey gần như đánh vật để đỡ anh xuống đất. Rồi bác Pompey một bên, và Matilda bên kia dìu anh về xóm nô, những người khác xung quanh thấy anh đau buồn thế lại khóc. Matilda xốc anh loạng choạng vào trong lều, theo sau là Kizzy bế đứa bé.

Khi anh đã trấn tĩnh lại, mọi người bèn kể cho anh nghe điều đã xảy ra. “Anh với ông chủ đi sáng thứ hai.” Matilda nói, “và đêm í ở đây không ai ngủ yên. Tuồng dư sáng thứ ba, tất cả thức giấc cảm thấy dư nghe rõ hàng tràng cú rúc chó sủa. Thế rồi nghe thấy tiếng kêu thét…”

“Đấy là Malizy!” Kizzy thốt lên. “Lạy Chúa, bà í gào thiệt dữ! Bọn tui ào ra chỗ bà í đi cho lợn ăn. Và bác ta nằm đây, tội nghiệp cái linh hồn già sõng sượt trên đường cái, nom dư một đống giẻ!”

“Lúc ấy, bác vẫn còn sống” - Matilda nói - nhưng “chỉ một bên miệng bác í động đậy. Em quỳ sụp ngay xuống ghé sát vào, chỉ hơi đoán ra lời bác í thì thào. “Chắc tui bị đột quỵ” bác biểu thế, “Giúp tui trông đàn gà… Tui không thể…”.

“Lạy Chúa thương xót, không ai biết làm như thế nào cả!” Kizzy nói, nhưng rồi bác Pompey cố bế cái hình hài mềm oặt mà nặng nề lên. Bác không đủ sức và mọi người xúm lại, cuối cùng kéo được bác Mingo về xóm nô, đặt lên giường bác Pompey.

“George ạ, bác í đã thúi dữ, sực mùi ốm trên người!” Matilda nói. “Bọn tui bắt đầu quạt mặt bác í và bác í tiếp tục thì thào… dững con gà… tui phải quay về…”

“Bấy giờ Malizy mới chạy đi thưa mấy bà chủ.” Kizzy nói, “bà í đến, vặn vẹo tay, kêu khóc, làm bù lu bù loa lên! Dưng đâu phải là vì ông anh Mingo của tôi! Không! Tiên chưng bà í với hò rằng phải cắt ai xuống chỗ lũ gà kẻo ông chủ lên cơn mất! Thế là Matilda gọi Virgil…”

“Rành là em chả muốn thế đâu!” Matilda nói, “Anh biết ý em thế nào về chuyện í rồi đấy. Một người trong nhà ở dưới í với lũ gà là đủ rồi. Mấy lị, em đã nghe nói nào chó lạc, nào cáo, thậm chí là cả mèo rừng, lảng vảng tìm cách ăn thịt gà! Dưng mà Chúa phù hộ lái tim thằng bé! Nó sợ xanh mắt, dưng mà nó nói: “Mẹ ạ, con đi, con chỉ không biết làm thế nào thôi!” Bác Pompey bèn lấy một túi ngô mà rằng: Trông thấy con nào, cháu cứ ném một nắm này cho nó, rồi hễ lúc nào có thể, ông xuống đấy ngay…”

“Vì không có cách nào nhắn được tới anh và ông chủ, trong khi Sarah thì e rằng bệnh tình bác Mingo đã vượt quá giới hạn các thứ rễ cây của cô có thể chữa khỏi và thậm chí bà chủ cũng không biết xoay sở ra sao để tìm được bất kì một ông bác sĩ nào, nên bọn tui không thể làm gì khác, ngoại trừ chờ thầy trò anh về”, họ nói với anh. Matilda bỗng khóc và George với tay ra nắm lấy tay cô.

“Nó khóc là vì lúc bọn tui quay về lều bác Pompey sau khi thưa chuyện bà chủ, thì bác Mingo đi rồi.” Kizzy nói. “Lạy Chúa! Chỉ nhìn bác một cái là biết!” Lúc này chính bà cũng nức nở. “Tội nghiệp cái linh hồn già, chết thui thủi một mình!”

Khi bà Lea được báo, Matilda nói. “bà í bắt đầu la rầm lên rằng bà í thật chả biết làm thế nào mấy những người chết cả, chỉ nghe ông chủ nói là nếu giữ hơn một ngày là bắt đầu thối rữa. Bà í biểu khi thầy trò anh về thì đã quá hạn í lâu rồi, cho nên bà biểu bọn tui phải đào một cái hố…”

“Lạy Chúa!” Kizzy thốt lên. “Bên dưới rừng liễu đất khá mềm. Bọn tui lấy xẻng, bác Pompey mấy cả bọn lền bà chúng tui đào đào bới bới, luân phiên nhau mỗi người một lần, cho đến khi được một cái hố vừa để đặt bác í vào. Bọn tui quay về, rồi bác Pompey mới tắm rửa cho bác í.”

“Bác Pompey bôi lên người bác í một ít glycerin cô Malizy xin của bà chủ”, Matilda nói “ rồi rẩy lên ít nước hoa, thứ anh mang về cho em năm ngoái í mà”.

“Chả có quần áo lành lặn tử tế mà mặc cho bác í”, Kizzy kể tiếp, “cái bộ bác í đang mặc thì hôi quá, còn bác Pompey có lèo tèo mấy cái thì cái nào cũng quá chật, thành thử đành chỉ quấn bác í trong hai tấm khăn trải giường”. Sau đó, bà nói, bác Pompey đã chặt hai cành cây xanh thẳng, trong khi đám phụ nữ tìm được số ván cũ và họ làm một cái cáng. “Về bà chủ, phải nói rằng khi bà í trông thấy bọn tui tất cả xúm lại khiêng bác í đến huyệt”, Matilda nói “thì bà í đã chạy đến với quyển Kinh Thánh nhà họ. Khi bọn tui đưa bác í đến đấy, bà í đọc mấy đoạn trong Thánh Thi (Psalm), rồi em cầu nguyện, xin Thượng đế cứu rỗi cho linh hồn cụ Mingo an nghỉ… Thế rồi mọi người đặt thi thể xuống huyệt và lấp đất lên”.

“Bọn tui đã lo cho bác í tốt đẹp nhất với sức mình có thể làm! Anh muốn bực thì mặc anh”. Matilda lớn tiếng, hiểu lầm vẻ đau đớn trên mặt chồng.

Níu lấy và ghì chặt vợ, anh cất giọng khàn khàn; “Chẳng ai bực giận cả…” Xúc động làm anh nghẹn lại không diễn đạt nên lời nỗi giận dữ với bản thân mình và ông chủ đã không có mặt ở đây sáng nay. Biết đâu họ chẳng có thể làm được chút gì khả dĩ cứu được bác.

Lát sau, anh rời khỏi căn lều, ngẫm nghĩ về chuyện chính những người vẫn nói ra miệng là không ưa Mingo, đã tỏ ra xiết bao quan tâm, lo lắng và thậm chí yêu thương đối với bác. Nom thấy bác Pompey, anh bước tới, riết chặt tay bác và hai người nói chuyện một lát. Bác Pompey cũng gần bằng tuổi bác Mingo; bác nói là bác vừa ở khu gà chọi về, để cu Virgil ở lại đó trông gà. “Cháu có thằng con trai ngoan lắm, rành là thế!” Rồi bác bảo “Khi nào cháu xuống đấy, vì rằng giời không mưa, cháu vẫn có thể thấy cái vệt ngoằn ngoèo trên bụi đường là dấu của ông anh Mingo lết mình trong đêm tối suốt từ đấy đến đây”.

George không muốn nhìn thấy cái đó. Chia tay với bác Pompey, anh chậm rãi bước tới rặng liễu. Phải mất một lúc, anh mới nhìn thẳng vào nắm đất mới đắp lên. Đi quanh quẩn như trong một cơn choáng, nhặt mấy hòn đá, anh xếp thành một hình trang trí quanh mộ. Anh cảm thấy mình không xứng đáng.

Để tránh cái vệt do bác Mingo để lại trên lớp bụi đường, anh đi tắt qua một cánh đồng đầy thân ngô gẫy đến khu gà chọi.

“Con đã làm một việc tốt, con trai ạ. Bi giờ, con đi về mấy mẹ thì hơn”. Anh nói, bàn tay thô kệch vỗ vỗ đầu Virgil, làm thằng bé sướng rơn với lời khen đầu tiên của bố. Sau khi nó đi rồi George ngồi xuống và mắt trừng trừng nhìn vào khoảng không, đầu óc lộn xộn những cảnh từ mười lăm năm nay, lắng nghe những vang vọng của con người vừa là thầy vừa là bạn, gần gũi anh nhất từ xưa đến nay, tựa hồ một người cha. Anh gần như nghe thấy cái giọng rạn vỡ ấy quát tháo ra lệnh, dịu xuống khi nói chuyện chọi gà, chua chát phàn nàn về nỗi bị gạt ra rìa. “Mầy mấy ông chủ ngỡ có thể giao cho tau nuôi gà trong khi thầy trò mầy đi hả?” George cảm thấy mình ngợp chìm trong hối hận.

Những câu hỏi đến với anh: Bác Mingo ở đâu trước khi ông chủ Lea mua bác? Gia đình bác có những ai? Bác chẳng bao giờ nhắc đến người thân nào. Liệu bác có vợ con ở một nơi nào không? George là người gần gũi bác nhất trên đời này, vậy mà anh biết quá ít về con người đã dạy anh mọi điều anh biết.

George-Gà dạo bước: Lạy Chúa, đâu rồi, ông bạn già dáng đi lóng ngóng đã bao lần cùng anh giẫm gót lên từng tấc đất của nơi quen thuộc này?

Anh ở lại đó một mình suốt ngày và đêm hôm sau. Sáng thứ bảy, ông chủ Lea mới xuất hiện. Mặt ngơ ngác và u ám, ông đi thẳng vào vấn đề: “Tao nghĩ hết nước hết cái rồi. Trước hết, cứ đốt phăng cái lều của Mingo đi. Đó là cách tốt nhất để thanh toán chuyện này”.

Mấy phút sau, họ đứng nhìn những ngọn lửa thiêu trụi căn lều nhỏ đã từng là mái ấm che cho bác Mingo trong hơn bốn mươi năm trời. George-Gà cảm thấy là ông chủ còn nghĩ một điều gì khác trong đầu, song khi ông nói ra, anh có phần bị bất ngờ.

“Tao đã nghĩ về chuyện đi New Orleans”, ông chủ nói, “Có quá nhiều bất trắc, trừ phi mọi cái được thu xếp ổn thỏa…” Ông nói chậm rãi, gần như là chuyện trò với bản thân. “Ta không thể đi mà không có ai trông nom gà ở nhà. Tìm người thì mất thì giờ quá, có khi lại phải dạy nghề nó nữa. Tao đi một mình thì không được rồi, phải lái xe ngần nấy đường đất, rồi lại còn chăm sóc mười hai con gà nữa. Đi dự chọi gà mà không nhằm mục đích thắng cuộc thì còn nghĩa lý quái gì. Bây giờ mà cứ đi thì chỉ là điên rồ…”

George-Gà nuốt khan đánh ực. Ngần ấy tháng trời chuẩn bị… ngần ấy tiền ông chủ phải chi tiêu… bao nhiêu hy vọng của ông chủ nhằm lọt được vào giới chọi gà ưu tú nhất của miền Nam… những con gà luyện tuyệt vời đến thế để đánh bại bất kỳ đối thủ có cánh nào. Nuốt đánh ực lần thứ hai, anh nói: “Vâng, thưa ông chủ”.

Chương 99

Làm việc một mình ở dưới này với đàn gà chọi quả là xa lạ và cô quạnh đến nỗi George-Gà đâm tự hỏi làm sao mà bác Mingo có thể chịu được hơn hai-mươi-lăm năm trời, trước khi anh đến với bác. “Khi ông chủ mua tau”, ông lão đã kể với anh, “và đàn gà bắt đầu đông thêm, ông í cứ bỉu là sẽ mua thêm cho tau một đứa giúp việc, cơ mà ông í chả bao giờ giữ lời, và tau mới vỡ nhẽ ra là bạn bầu mấy gà có khi còn tốt hơn chung đụng mấy người”. Mặc dầu George cảm thấy mình cũng yêu gà gần như chẳng kém ai, đối với anh, chúng không bao giờ có thể thay thế người được. Song anh cần một người nào đó để giúp mình chứ không phải để bầu bạn, anh tự nhủ vậy.

Riêng phần mình, anh vẫn thấy nên chọn Virgil là hợp lý nhất. Như thế mọi sự sẽ vẫn là bó tròn trong phạm vi gia đình và anh có thể đào tạo thằng bé y như bác Mingo đã đào tạo anh. Nhưng vì anh ngại phải thương lượng với Matilda và Kizzy nên George cố nghĩ xem có tay luyện gà nào quen mà anh có thể thuyết phục ông chủ mua lại của người hiện đang sở hữu y. Song anh biết bất cứ ông chủ sư kê chính hiệu nào phải ở bước dường cùng, thực sự cần tiền đến mức tuyệt vọng, mới nghĩ đến chuyện bán tay luyện gà của mình, nhất là lại bán cho một đối thủ như ông chủ Lea nữa. Cho nên anh bèn nghĩ đến những tay đá cáp da đen, song có tới nửa số này cũng là dân luyện gà như anh, đem những gà loại của ông chủ họ đi chọi, và phần lớn trong đám còn lại thì cũng thuộc loại ba như gà của họ hoặc giả là những nhân vật khả nghi đem chọi những con rất hay, kiếm được bằng những cách đáng ngờ. Có một số tay đá cáp người da đen tự-do anh đã gặp là những tay cừ thực sự và có thể thuê công nhật, thuê hàng tuần, hàng tháng hoặc thậm chí cả năm, nhưng anh biết không đời nào ông chủ Lea cho phép một người da đen tự-do lọt vào đất đai của ông, dù anh ta có là tay luyện gà cự phách nhất ở North Carolina chăng nữa. Thành thử George không có cách nào khác. Và cuối cùng một buổi tối, anh thu hết nghị lực, nêu vấn đề ra trong gia đình.

“Trước khi em lại biểu là em không chịu, thì hẵng nghe anh đã. Lần sau mà ông chủ muốn đem theo anh đi đâu chắc chắn lúc í ông í sẽ biểu anh: “Đi kiếm thằng con nhớn của mầy đưa xuống đây!” Một khi đã xảy ra dư vậy là Virgil phải ở hẳn vĩnh viễn mấy bọn gà, trừ phi ông chủ nói khác đi, mà có lẽ chả bao giờ có chuyện í và cả anh lẫn em đều không thể hé ra một tiếng xì xầm…” Anh khoát tay ngăn không cho Matilda ngắt lời. “Khoan! Anh không muốn em cãi lại. Anh đang cố để em thấy là thằng bé cần phải xuống đó ngay bi giờ. Nếu anh đưa nó xuống ngay thì có thể đủ thì giờ để anh dạy nó cho gà ăn khi anh phải đi xa và giúp anh tập gà trong mùa luyện. Rồi còn thì giờ bao nhiêu trong cả năm, nó có thể ra đồng với mấy người cơ mà”. Thấy vẻ mặt căng thẳng của Matilda, anh nhún vai một cách tinh vi và vờ nhẫn nhịn, nói: “Thôi được, vậy thì anh chỉ việc để em giải quyết mấy ông chủ!”

“Em chỉ tức cái là anh nói cứ dư Virgil đã nhớn í”. Matilda nói: “Anh không biết thằng bé mới sáu tuổi hay sao? Vừa bằng nửa tuổi của anh khi anh bị kéo xuống đấy”. Cô ngừng một lát. “Dưng mà em biết là bi giờ lên sáu, là nó phải làm việc. Cho nên xem chừng không còn cách nào khác là làm theo lời anh, mặc dù quả tình em cứ tức điên lên mỗi khi nghĩ là ba cái con gà í đánh cắp anh đi mất bao nhiêu!”

“Cứ nghe em mấy mẹ thì có mà! Làm dư gà nó bắt chộp anh đi, mang qua đại dương đến tận đâu đâu í!”

“Thì cũng dư thế phần lớn thời gian, vì anh đi suốt”.

“Đi suốt! Thế ai ngồi đây nói chuyện mấy em? Ai ngày nào cũng ở đây cả tháng nầy?”

“Tháng nầy thì có thể thế, dưng mà ít nữa thì anh lại ở đâu?”

“Nếu nói về mùa chọi thì ông chủ biểu đi đâu là anh ở đấy. Nếu nói về bi giờ đây thì ăn xong, chắc chắn anh cũng không ngồi đây cho đến lúc có con cáo nào bò vào khu dưới í, chén một vài chú gà, kẻo anh đi tongthực sựmất!”

“Ờ! Dốt cuộc anh cũng phải đồng ý là ông chủ chả từ bán cả anh nữa nhá!”

“Anh tin rằng nếu bà chủ để cho gà của ông bị ăn thịt thì ông ấy cũng bán luôn cả bà í”.

“Nầy”, Matilda nói, “Chúng mình đã thỏa thuận về chuyện Virgil là không phải to tiếng, vậy thời đừng có gây sự cãi cọ về chuyện gì khác nữa”.

“Anh có khơi chuyện trước đâu, chính là em đấy”.

“Thôi được, George à, em hết cơn đôi co rồi”. Matilda nói, đặt những bát thức ăn bốc hơi nghi ngút lên bàn. “Anh ăn đi rồi mà về thôi, sáng mai em cho Virgil xuống đấy. Trừ phi anh muốn đưa nó đi ngay bi giờ thì em đi sang bà tìm nó về”.

“Thôi, mai cũng được”.

Nhưng trong vòng một tuần, George-Gà thấy rõ là đứa con trai lớn của mình hoàn toàn không có cái đã từng là niềm say mê với gà chọi thuở thiếu thời của anh. Dù nó sáu tuổi hay bao nhiêu đi nữa, George cũng không thể quan niệm được rằng sau khi hoàn thành một công việc được giao, Virgil lại có thể tha thẩn chơi một mình, hoặc chỉ ngồi thừ ra không làm gì ở một chỗ nào đó. Để rồi giật mình bật dậy khi bố nó cáu tiết kêu lên: “Đứng dậy! Mầy tưởng cái nầy là cái gì? Đây không phải lợn, đây là gà chọi!” Sau đó, Virgil sẽ làm khá tốt bất cứ nhiệm vụ mới nào đó được cắt đặt vào, song một lần nữa liếc mắt ngó sang, George lại thấy cậu con trai ngồi thừ hoặc bỏ đi chơi. Sôi máu, anh nhớ lại hồi bé, có bao nhiêu thì giờ rảnh anh chỉ lăng xăng ngắm nghía đàn gà con và gà tơ, bứt cỏ và bắt cào cào cho chúng ăn, lấy thế làm hào hứng khôn xiết.

Tuy trước kia, cách đào tạo của bác Mingo rất thiết thực và điềm tĩnh - ra một mệnh lệnh, lặng lẽ giám sát, rồi một mệnh lệnh nữa - giờ đây George quyết định thử một phương pháp khác với Virgil, hy vọng làm nó chừa cái thói kia. Anh sẽnói chuyện với nó.

“Ở trên kia, lúc một mình, con làm gì?”

“Chả làm gì, bố ạ”.

“Ờ, thế có hòa thuận mấy các em, có nghe lời mẹ mấy bà không?”

“Có ạ”.

“Chắc mẹ mấy bà cho con ăn ngon lắm hả?”

“Vâng ạ”.

“Thế con thích ăn gì nhất?”

“Bất kỳ thứ gì mẹ nấu cho chúng con ạ”.

Thằng bé thậm chí không có lấy một mảy may tưởng tượng. Anh sẽ thử phương sách khác.

“Con kể bố nghe chuyện cụ cố, dư con đã làm một lần, xem nào?”

Virgil ngoan ngoãn làm theo, có phần cứng ngắc. Tim George trĩu xuống. Nhưng sau khi đăm chiêu đứng đó một lúc, thằng bé hỏi: “Bố à, bố có trông thấy cụ cố không?”

“Không”, anh trả lời, khấp khởi hy vọng. “Bố biết về cụ cũng dư con thôi, do bà kể”.

“Trước bà thường đi xe một ngựa mấy cụ!”

“Nhất định rồi! Đấy là bố bà mà. Cũng dư về sau, một hôm nào đó, con kể cho các con của con là con thường hay ngồi đây mấy bố giữa đàn gà”.

Điều đó hình như làm Virgil ngượng, nó im bặt.

Sau một số lần cố gắng khập khiễng như vậy nữa, cực chẳng đã, George đành bỏ cuộc, song lại hy vọng có thể may mắn hơn với Ashford, với George và Tom. Không thổ lộ với ai nỗi thất vọng của mình về Virgil, anh tiếc rẻ quyết định dùng thằng bé vào những việc chốc lát, từng lúc, như đã bàn với Matilda chứ không hoài công cố gắng luyện nó thành người phụ tá thường trực toàn-thời-gian như anh đã thực tâm dự định.

Cho nên, khi George-Gà cảm thấy Virgil đã nắm vững nhiệm vụ cho lũ gà nhỏ và gà tơ trong chuồng ăn và uống mỗi ngày ba lần, anh gửi trả nó về cho Matilda để bắt đầu làm việc ngoài đồng với mọi người - và điều đó xem ra rất hợp với thằng bé. Tuy không bao giờ lộ ra ý nghĩ đó với Matilda, Kizzy hay những người khác, song George-Gà bao giờ cũng cảm thấy khinh thường sâu sắc công việc đồng áng mà anh coi không có gì khác hơn là một sự lao dịch không ngừng, nào cuốc xới dưới ánh mặt trời nóng nực, nào kéo lê những bao tải bông, nào bắt sâu thuốc lá không bao giờ dứt và ngả những thân ngô làm thức ăn cho gia súc, mùa nối mùa bất tận. Với một tiếng cười khúc khích anh nhớ lại lời bác Mingo: “Cứ cho tau chọn giữa một cánh đồng ngô hay bông thật tốt mấy một con gà chọi hay, thể nào tau cũng lấy con gà!” Chỉ nghĩ đến cái điều là một cuộc chọi gà được thông báo ở đâu đó, đã đủ phấn khởi vui vẻ rồi - dù là ở trong một cánh rừng, một bãi cỏ trống để thả bò hay đằng sau chuồng ngựa của một ông chủ nào đó - lập tức không khí náo nhiệt như thể các sư kê đang bắt đầu dồn về đó với những chú gà cất tiếng gáy khàn trong nỗi cuồng vọng muốn thắng hay là chết.

Vào cái vụ nghỉ ngơi mùa hè này, khi gà đang thay lông, chỉ có công việc thường nhật và George-Gà dần dần trở nên quen với tình trạng không có ai bên cạnh để trò chuyện ngoại trừ lũ gà – nhất là con gà mồi lão tướng lông cộc vốn là con cưng thực sự của bác Mingo.

“Đáng lý ra mầy có thể biểu chúng tau bác í ốm đến chừng nào chứ, cái con quỷ già mắt vách đất này!” một buổi chiều, anh bảo con gà già như vậy, nó nghênh nghênh đầu một giây như thể biết là anh đang nói với nó, rồi lại tiếp tục mổ bới theo cái cách thường xuyên đói ăn của nó. “Mầy nghe tau nói mấy mầy đây!” George nói, kiểu gắt yêu. “Mầy phải biết là bác í thật là nguy kịch chứ lị!” Trong một lúc, anh đưa mắt uể oải nhìn theo con gà đang sục sạo. “Ờ, tau chắc mầy biết bác í bây giờ mất rồi. Tau không biết mầy có nhớ ông lão dư tau không.” Nhưng con gà mồi già vẫn lảng ra mổ mổ, bới bới, coi bộ chẳng nhớ ai sất và cuối cùng George-Gà ném một hòn sỏi khiến nó vừa chạy biến vừa kêu quang quác. Trong khoảng một năm nữa - George ngẫm ngợi - có lẽ con gà già sẽ đi gặp bác Mingo ở chốn mà các sư kê già và lũ gà của họ tìm đến sau khi chết. Anh tự hỏi điều gì đã xảy đến với con gà đầu tiên của ông chủ - cái con gà chọi xổ-số-hai-mươi-lăm-xu đã khởi đầu sự nghiệp của ông cách đây hơn bốn chục năm. Cuối cùng nó đã ăn một cựa chí tử chăng? Hay nó đã chết già theo cách của một con gà mồi danh dự? Tại sao dạo trước anh không hỏi bác Mingo về chuyện đó nhỉ? Anh phải nhớ hỏi ông chủ mới được. Hơn bốn mươi năm về trước! Ông chủ đã kể với anh là khi được con gà ấy, ông mới có mười bảy tuổi. Tức thị là bây giờ ông khoảng năm mươi sáu, năm mươi bảy gì đó - hơn George-Gà độ ba chục tuổi. Nghĩ về ông chủ, về việc ông ta có trong tay cả người lẫn gà cho đến trọn đời, anh bỗng lan man tự hỏi: cái cảm giác là mình không thuộc về một người nào cả, nó như thế nào nhỉ? Cái cảm giác được “tự do” nó ra sao? Chắc cũng chẳng hay ho gì lắm, nếu không thì ông chủ Lea, cũng như phần lớn những người da trắng đã không ghét dân da đen tự do thậm tệ đến thế. Nhưng rồi anh nhớ đến những lời mà một phụ nữ da đen tự do bán rượu táo (white lightning) cho anh ở Greensboro, đã từng nói với anh: “Mỗi một người tự do chúng tôi là một bằng chứng sống cho dân nhọ đồn điền các anh thấy rằng: là một người da đen không có nghĩa phải là nô lệ. Ông chủ anh không bao giờ muốn anh nghĩ gì về cái đó”. Trong những buổi cô đơn đằng đẵng ở khu gà chọi, George-Gà bắt đầu suy nghĩ triền miên về điều ấy. Anh quyết định sắp tới đây, anh sẽ lân la trò chuyện với một số người da đen tự do anh vẫn gặp nhưng bao giờ cũng lờ đi, những lần đi cùng với ông chủ đến các thành phố.

Bước dọc theo hàng rào gỗ (split-rail fence), cho lũ gà nhép và gà tơ ăn, uống, George-Gà như mọi lần, vẫn khoái thấy đám gà tơ cất giọng còn non, giận dữ kêu cục cục với anh, như thể đang ôn tập cái khí thế man rợ sắp tới ở trường gà (cockpit). Anh bắt đầu chợt thấy mình nghĩ rất nhiều về chuyện bị sở hữu.

Một buổi chiều, trong khi đi kiểm tra thường kỳ số gà đang trưởng thành ở bãi thả, anh quyết định tiêu khiển bằng cách thử bắt chước tiếng gáy thách thức của một con trống, một ngón mà anh gần đạt đến độ hoàn hảo. Trước đây, gần như bao giờ cũng vậy, điều đó lập tức khiến một kẻ bảo vệ cáu tiết, giận dữ gáy đáp trả và ngó nghiêng đầu bên này, bên kia tìm kẻ đột nhập mà nó chắc chắn là vừa nghe thấy. Hôm nay cũng thế. Nhưng con gà lẫm liệt từ bụi rậm nhẩy ra đáp lại tiếng nhứ gọi của anh còn đứng đập cánh phành phạch vào mình đến gần nửa phút rồi mới cất tiếng gáy như xé toang buổi chiều thu. Tia nắng chói chang phản chiếu bộ lông óng ánh của nó. Dáng dấp nó hùng mạnh và dữ tợn, từ đôi mắt long lanh đến cặp giò to khỏe màu vàng, với những chiếc cựa lợi hại. Từng phân, từng lạng của thân hình nó biểu trưng sự dũng cảm, tâm hồn và tự do một cách hùng hồn đến nỗi khi quay về, George-Gà nguyện sẽ không bao giờ bắt con gà này để huấn luyện và cắt tỉa. Nó phải được để yên ở đó, giữa lùm thông với bầy mái của mình - không bị đụng chạm và tự do!

Chương 100

Mùa chọi gà mới đang nhanh chóng tới gần, song ông chủ Lea không hề nhắc đến New Orleans. George-Gà thực ra, cũng không chờ đợi ông nhắc đến, cách nào đó, anh đã biết là cuộc hành trình đó sẽ không bao giờ xảy ra. Nhưng tại những cuộc đá đối đầu ở địa phương, anh và ông chủ đã gây ấn tượng mạnh mẽ khi hai thầy trò xuất hiện trong cỗ xe thửa bóng lộn có lắp mười hai chuồng gà. Và họ liên tục gặp vận. Đổ đồng, ông chủ Lea cứ năm trận thì thắng xuýt xoát bốn, và George với những con hay nhất trong số gà loại, cũng thành công gần như vậy trong các cuộc đá cáp ở quận Caswell. Đó là một mùa bận rộn đồng thời cũng nhiều lợi lộc, nhưng George đã kịp về nhà khi đứa con trai thứ năm ra đời vào cuối năm ấy. Matilda tỏ ý muốn đặt tên thằng bé này là James. Cô nói: “Trước nay, cách này hay cách khác, James vẫn là cái tên em ưa chuộng nhất trong tất cả các thánh tông đồ”. George-Gà đồng ý với một cái nhăn mặt kín đáo.

Giờ đây, anh và ông chủ Lea đi đâu bất kể xa, gần, cũng nghe thấy chuyện chống đối người da trắng mỗi ngày một thêm gay gắt. Trong chuyến đi gần đây nhất, một người da đen tự do đã kể với George về Osceola, thủ lĩnh của bộ tộc da đỏ Seminole ở một bang gọi là Florida. Khi người da trắng bắt lại được người vợ da đen của Osceola một nữ nô lệ chạy trốn, anh đã tổ chức một chiến đoàn gồm hai nghìn người Seminole và nô lệ da đen chạy trốn, để truy lùng và phục kích một đơn vị của quân đội Mỹ. Theo lời kể, trên một trăm lính đã bị giết và một lực lượng quân đội lớn hơn nhiều hiện ráo riết truy kích quân của Osceola đang chạy trốn, vừa ẩn náu vừa bắn tỉa từ những đường mòn và ngóc ngách trong vùng đầm lầy Florida.

Và mùa chọi gà năm 1836 kết thúc chưa được bao lâu thì George-Gà nghe nói là ở một nơi nào đó gọi là “Alamo”, một toán người Mexico đã tàn sát một trại lính da trắng dân Texas, kể cả một nhân viên lâm nghiệp tên là Davy Crockett vốn nổi tiếng là một người bạn và bảo vệ của dân da đỏ. Sau đó, cũng trong năm ấy, anh nghe nói người da trắng lại bị những tổn thất lớn hơn trước sự tấn công của quân Mexico dưới quyền chỉ huy của tướng Santa Anna; người ta nói rằng ông này tự xưng là sư kê cự phách nhất thế giới; nếu đúng thế, George tự hỏi tại sao cho đến nay, anh chưa hề nghe nhắc đến ông ta.

………

Chương 102

………

George-Gà làu bàu nói: “Ta đi tiếp xuống ngó qua lũ gà chăng? Để xem cái thằng George-Con (L'il George) vô tích sự í mắc chuyện gì ở đấy lâu thế. Theo tau biết, chưa chừng bi giờ nó thịt mấy con gà, nấu lên đánh chén mừng Lễ Tạ Ơn cũng nên”.

Tom cười: “George-Con tốt đấy, bố ạ. Anh í chỉ chậm chạp thế thôi. Anh í từng biểu con anh í cũng yêu gà dư bố” Tom dừng lại một chút, rồi quyết định đánh bạo nêu ý nghĩ tiếp theo của mình: “Con cho rằng trên đời không có ai yêu gà dư bố”.

Nhưng George-Gà sẵn sàng nhất trí khá nhanh: “Dù sao cũng không ai thế trong cái gia đình này. Bố đã thử tất cả bọn nó rồi - trừ con. Tuồng dư tất cả lũ con trai còn lại của bố đều muốn suốt đời kéo cầy từ đầu nầy đến đầu kia cánh đồng, ngước mắt lên chỉ thấy mông con la!” Anh ngẫm nghĩ một lát: “Nghề rèn của mày, nói cho đúng ra, cũng chưa phải là sống cao sang gì - không gì bằng chọi gà - dưng mà chí ít nó cũng là một công việc lền ông”.

Tom tự hỏi liệu cha mình có thực sự tôn trọng cái gì ngoài gà chọi không. Nó cảm thấy rất mừng là đã thoát bằng cách nào đó và đi vào cái nghề rèn vững vàng, ổn định. Song nó diễn đạt ý nghĩ của mình một cách quanh co.

“Con thấy làm ruộng chả có gì xấu, bố ạ. Nếu không có người làm ruộng, chắc không ai có ăn. Con chọn theo nghề rèn cũng dư bố ưng chọi gà, là vì con thích nó và Chúa cho con cái khiếu í. Rành không phải tất cả mọi người cùng thích một thứ dư nhau”.

“Ờ, chí ít bố mấy con còn biết đường làm ra tền trong khi làm cái mình thích”, George-Gà nói.

Tôm trả lời. "Hiện mới có bố thôi. Con thì còn phải vài năm nữa mới kiếm được, khi nào con học nghề xong và đi làm cho ông chủ - nghĩa là nếu ông í cho con một ít trong số tền làm ra, dư ông í làm với dững gì bố được khi đá cáp!

Chương 103

Trong trí nhớ của George-Gà, không gì gây nhộn nhạo trong giới sư kê North Carolina bằng cái tin lan truyền nhanh chóng hồi cuối tháng mười một năm 1855 rằng ông chủ Jewett giầu bự đang đón tiếp thượng khách là một sư kê tước vị, giầu có tương đương từ nước Anh sang, người mang qua đại dương ba mươi con trong số “Gà Chọi Anh” (Old English Game) thuần của ông, nghe nói là giống gà chọi hay nhất trên đời. Theo tin này, vị khách người Anh, Ngài C. Eric Russell, đã chấp nhận thư mời của ông chủ Jewett để đá gà mình với một số con hay nhất ở Mỹ. Bởi là bạn lâu năm, họ không muốn đụng nhau, nên mỗi người sẽ góp hai mươi con để đá với bốn mươi địch thủ bất kỳ nào mà các chủ gà chọn lọc được mong đợi sẽ cá một nửa trong số 30,000 đô-la tiền độ (main pot), và 250 đô-la là khoản cáp ngoài (side bet) tối thiểu được phép mỗi trận. Một sư kê giàu có khác ở địa phương xung phong sắp xếp bốn mươi địch thủ--chỉ chấp nhận năm con mỗi người từ bảy chủ gà khác ngoài chính ông ta.

Với ông chủ Lea, ông thực sự chẳng cần phải nói với tay luyện gà kỳ cựu của mình rằng ông đang nhắm nhe một phần của khoản tiền độ khổng lồ này.

“Thế đấy”, ông nói lúc trở về đồn điền sau khi đóng 1,875 đô-la tiền thế chân (bond) của mình, “chúng ta có sáu tuần để luyện năm con gà”.

“Vâng thưa ông, cháu nghĩ có thể làm được việc í”, George-Gà trả lời, cố hết sức--mà chẳng thành công--để khỏi lộ ra sự kích động. Bên cạnh nỗi hồi hộp sâu sắc của bản thân khi nghĩ về một cuộc đấu ghê gớm đến vậy. George-Gà còn hân hoan nói với gia đình tề tụ xóm nô rằng ông cảm thấy như chỉ riêng sự phấn khởi đã khiến cho ông chủ Lea trẻ ra đến hai mươi lăm tuổi. “Rành là họ đá lớn hơn bất kỳ tay đá cáp nào!” ông kêu lên. “Ông chủ biểu rành đây là trận lớn nhất mà ông từng nghe nói ở bất cứ đâu--mà thực ra là trận lớn thứ nhì ông í thấy”.

“Gớm, thế trận nào lớn hơn?” bác Pompey kêu lên.

George-Gà nói: “Ước chừng hai mươi năm trước, ông chủ Nicholas Amngton giầu nứt đá đổ vách gần Nashville, Tennessee, đem mười một xe tải phủ kín, hăm hai người, và ba trăm gà, đi qua không biết bao nhêu bang, qua mặt cả bọn cướp và dân da đỏ, và đủ mọi thứ, cho đến khi tới Mexico. Họ chọi với ba trăm con gà khác của tổng thống Mexico, một ông tướng Santa Anna lắm tền đếm không xuể, và thề thốt rằng mình nuôi được dững con gà chọi hay nhất thế giới. Chà, ông chủ biểu cuộc đấu gà của hai người kéo suốt một tuần liền! Cá to đến nỗi khoản độ là một cái rương đầy tền! Ông chủ biểu khoản cáp ngoài của họ có thể làm sạt nghiệp dững tay giàu nhất. Rốt cuộc, cái ông chủ Amngton ở Tennessee í ăn được quãng nửa triệu đô-la! Ông ta gọi đám gà của mình là “Tony Què”, theo tên của gã nhọ què luyện gà cho mình là Tony. Còn cái ông tướng Mexico Santa Ana nọ thèm muốn một con “Tony Què” làm giống, đến nỗi ông trả nó bằng giá vàng cân! (weight in gold)”.

“Bi giờ tui mới thấy giá mình đi vào nghiệp chọi gà có phải hơn!” bác Pompey nói.

Hầu hết sáu tuần sau, họa hoằn lắm mới thấy George-Gà và ông chủ Lea ở đồn điền. “May mà ông chủ cứ ở liền dưới í với gà, vì bà chủ đang cáu dư điên!” dì Malizy nói với mọi người ở xóm nô vào cuối tuần thứ ba. “Tui nghe thấy bà tru tréo ông về chuyện rút năm nghìn đô-la khỏi nhà băng. Thấy bà í biểu chỗ nầy gần bằng nửa số hai vợ chồng dành dụm suốt đời, rồi bà í gào thét và làm ỏm tỏi cả lên vì nỗi ông chồng cứ cố đua đòi mấy dững ông chủ giàu thật là giàu, nhều tền gấp nghìn lần ông í. Sau khi quát bà vợ im mồm và hẵng lo lấy công việc thổ tả của chính mình đã, ông chủ hiên ngang bước ra khỏi nhà”, dì Malizy kể.

Lầm lì nghe, không nói câu gì, là Matilda và gã Tom hai mươi hai tuổi, người bốn năm trước đã trở về đồn điền, dựng một tiệm rèn đằng sau chuồng ngựa, nơi anh hiện đang làm ăn phát đạt vì lợi ích của ông chủ Lea. Tức sôi sùng sục, Matilda đã tâm sự với con trai về chuyện George-Gà hùng hổ đòi lấy số tiền hai nghìn đô-la dành dụm, để giao cho ông chủ đặt cược vào đám gà Lea. Matilda cũng đã tru tréo và khóc lóc trong nỗ lực tuyệt vọng để phân giải thiệt hơn cho George-Gà, “Cơ mà ông í cư xử cứ dư hóa dại!” bà kể với Tom. “Ông í quát mẹ: Nầy mụ, ta biết từng con gà nhà nầy từ lúc tụi nó còn trong trứng. Có ba hay bốn con không loài có cánh nào đánh nổi! Ta không thể bỏ qua dịp may nầy để nhân lên đúng gấp đôi dững gì chúng ta đã dành dụm được, chẳng gì nhanh hơn một con gà của ta đá chết con kia! Hai phút có thể đỡ cho chúng ta đến tám, chín năm bòn rút và dành dụm để chuộc lại tự do!”.

“Mẹ à, con biết mẹ đã biểu bố là nếu gà mình thua thì lại phải bắt đầu để dành lần nữa!” Tom thốt lên.

“Không phải mẹ chỉ nói mấy ông í có thế! Mẹ đã cố hết sức mình tọng vào đầu ông í rằng ông í không có quyền đánh bạc mới tự do của chúng ta! Cơ mà ông í nổi điên lên thật sự, gầm thét: “Không cách nào bọn ta thua được! Mụ đưa tền cho ta!”. Và Matilda đã phải làm theo, bà kể với Tom, mặt đờ đẫn.

Ở khu gà chọi, George-Gà và ông chủ Lea đã hoàn thành việc lọc loại từ mười bảy con thả bãi (range walk) tốt nhất xuống còn mười con hay nhất, mà cả hai chưa từng thấy. Rồi họ bắt đầu tập bay (air-training) cho mười con đó, mỗi ngày thảy (toss) chúng một cao hơn, cho tới sau cùng, tám con trong số này bay cao hơn cả chục thước trước khi chân chạm đất. “Y dư thể chúng ta đang luyện gà tây rừng í ông chủ”, George-Gà cười khanh khách.

“Chúng nó sẽ cần phải là diều hâu để đọ lại với gà của Jewett và vị khách người Anh ấy”, ông chủ nói.

Khi cuộc đấu lớn chỉ còn cách một tuần nữa, ông chủ cưỡi ngựa đi và cuối ngày hôm sau, ông trở về với sáu đôi cựa thép (steel gaff) Thụy Điển vào loại tốt nhất có thể kiếm được dài và sắc như dao cạo, đầu nhọn như mũi kim.

Sau lần đánh giá gắt gao cuối cùng hai ngày trước trận đấu, cả tám con đều hoàn hảo đến nỗi không thể phân định năm con nào trội nhất. Thành thử ông chủ đành quyết định mang đi cả tám và đến phút chót sẽ chọn trong đám ấy.

Ông ta bảo George-Gà rằng họ sẽ lên đường vào nửa đêm hôm sau để đến nơi đủ sớm cho cả người lẫn gà đều được nghỉ ngơi lại sức sau chặng đường dài và sảng khoái bước vào trận đấu lớn. George-Gà biết ông chủ cũng nôn nóng tới đó như mình.

Hành trình dài trong đêm tối không gặp sự cố gì. Khi đánh xe, mắt ông uể oải nhìn chiếc đèn treo ngời sáng lắc lư ở đằng mũi xe giữa hai con la, George-Gà ngẫm nghĩ với những cảm giác xáo trộn về cuộc va chạm tình cảm vừa rồi giữa mình với Matilda xung quanh chuyện tiền nong. Ông bực dọc nghĩ về việc cái món tiền ấy là kết quả bao năm kiên trì dành dụm thì ông còn biết rõ hơn bà chứ lại; nói cho cùng, chẳng phải những thắng lợi hết năm này sang năm nọ của ông trong các cuộc đá cáp đã kiếm ra nó hay sao? Hẳn ông không lúc nào cảm thấy Matilda chưa tròn phận sự làm vợ, nên ông tiếc là mình đã phải thét lác át giọng bà, khiến bà nháo nhác đến thế, như ông chủ cũng buộc phải làm thế trong đại sảnh, nhưng mặt khác, có những khi người chủ gia đình phải dứt khoát hạ những quyết định cứng rắn, quan trọng chứ. Ông lại như nghe thấy tiếng kêu đầy nước mắt của Matilda: “George, anh không có quyền đánh bạc mới tự do của tất cả chúng ta!” Làm sao mà bà chóng quên đến thế rằng chính ông là người đầu tiên đề ra ý kiến cóp nhặt sao cho đủ để mua lại tự do cho cả nhà! Và sau ngần nấy năm dành dụm chậm rề rề, giờ đây ông chủ tâm sự rằng ông ta cần thêm tiền mặt để cáp ngoài trong những trận đấu sắp tới, không phải chỉ nhằm phô trương trước các ông chủ phú quý, trưởng giả hợm hĩnh kia, mà còn nhằm vơ tiền của họ nữa, thì đó chẳng phải vận trời cho thì còn là gì? George-Gà nhe răng cười một mình, khoái trá nhớ lại vẻ kinh ngạc tột độ của ông chủ Lea khi nghe thấy ông nói: “Cháu có độ hai nghìn đô-la tền để dành, ông có thể dùng để cá, ông chủ ạ”. Trấn tĩnh lại sau phút sửng sốt, ông chủ Lea đã thực sự nắm lấy tay người luyện gà của mình lắc đi lắc lại, hứa sẽ cho George-Gà nhận tất cả tiền được giải trong những khoản cá dùng đến tiền của ông, và tuyên bố: “Mày phải nhân gấp đôi số tiền đó, muốn thế nào thì thế!” Ông chủ lưỡng lự một chút rồi hỏi : “Nhỏ này, rồi mày làm gì với bốn nghìn đô-la?”.

Lúc đó, George-Gà đã quyết định đánh một nước bài thậm chí còn lớn hơn nước trước, bộc lộ lý do tại sao dành dụm lâu thế và ráo riết thế. “Ông chủ ạ, ông đừng có hiểu nhầm gì cháu, cháu dặt chỉ có tình cảm tốt nhất mấy ông mà thôi, ông chủ ạ. Dưng mà cháu mấy Tilda mới nói chuyện và thưa ông chủ, chúng cháu đã quyết định thử xem có thể mua lại của ông cả vợ chồng con cái và sống tự do nốt những ngày còn lại hay không!” Thấy ông chủ Lea rõ ràng bị bất ngờ, George-Gà lại nài nỉ: “Lạy Chúa, xin ông chớ hiểu nhầm chúng cháu, ông chủ”…

Nhưng rồi vào một trong những trải nghiệm nồng ấm nhất trong đời George-Gà, ông chủ Lea nói: “Này nhỏ, ta sẽ nói cho con biết ta nghĩ gì về cuộc chọi gà chúng ta sắp tham gia. Ta đồ rằng nó là cuộc chọi lớn cuối cùng của ta. Thậm chí ta nghĩ là con không hiểu, ta nay đã bảy mươi tám tuổi rồi. Hơn năm mươi năm, mùa nào ta cũng ngược xuôi lo lắng nào nuôi gà, nào chọi gà. Ta ớn chuyện ấy rồi. Con nghe ta chứ? Ta nói cho con biết, nhỏ ạ! Với phần tiền độ và các khoản cáp ngoài của ta, ta hy vọng được một món đủ để xây cho vợ chồng ta một ngôi nhà nữa--không phải là tòa lâu đài lớn như ta đã từng muốn một thời, mà chỉ năm, sáu buồng mới, chúng ta chỉ cần có thế thôi. Và trước lúc con nêu vấn đề thì ta cũng chưa nghĩ tới, song quả thật đến lúc bấy giờ, cũng chả cần nuôi cả một đống nhọ chúng mày làm gì. Chỉ cần Sarah và Malizy cũng có thể nấu nướng và chăm nom vườn tược cho tốt để chúng ta sống vào đó và có kha khá tiền ở nhà băng, khỏi phải xin xỏ ai cái gì”…

George-Gà gần như nín thở trong khi ông chủ Lea nói tiếp: “Cho nên ta sẽ nói cho con biết thế này, nhỏ ạ! Các con đã hầu hạ ta tốt và chưa hề gây rắc rối thực sự cho ta. Ông con ta sẽ thắng lớn cuộc chọi gà này, ít ra là gấp đôi số tiền của cả hai ta, phải, con chỉ cần đưa ra số tiền con sẽ có, bốn nghìn đô-la, thế là giữa chúng ta coi như xong! Và mày cũng biết như ta là đám nhọ nhà mày đáng giá gấp đôi thế! Tình thật, ta chưa nói cho con biết chuyện này bao giờ, có lần cái lão nhà giàu Jewett đã xin mua riêng mày với giá bốn nghìn đô-la mà ta từ chối phăng, cho lão tưng hửng! Phải, cả bọn mày có thể được tự do nếu đó là điều mày muốn!”.

Đột nhiên ứa nước mắt, George-Gà đã nhảy bổ tới định ôm chầm lấy ông chủ Lea, nhưng ông này bối rối né nhanh sang một bên. “Ôi, Lạy Chúa ông chủ, ông có biết ông đang nói gì không? Chúng con muốn được tự do xiết bao!” Giọng ông chủ Lea đáp lại khàn đi một cách kì lạ. “À, ta không biết bọn nhọ chúng bay, khi được tự do, sẽ làm gì nếu không ai để mắt tới bọn bay. Và ta biết bà vợ ta sẽ làm rinh thiên địa về chuyện ta cứ buông tha bọn bay, dù thế nào mặc lòng. Mẹ kiếp, riêng cái thằng Tom thợ rèn đã đáng đứt hai nghìn rưởi, chưa kể nó còn kiếm tiền tốt cho ta nữa!”.

Ông chủ dúi mạnh George-Gà một cái. “Cút đi, nhọ, trước khi ta thay đổi ý kiến! Mẹ kiếp! Hẳn là ta điên! Nhưng ta hy vọng vợ mày và mẹ mày cùng cả bọn nhọ nhà mày thấy ra là ta không đến nỗi xấu như ta biết chúng đã thường nghĩ”.

“Ồ, không ạ, không ạ, thưa ông chủ, cảm ơn ông, dạ thưa ông chủ!” George-Gà luýnh quýnh lui lại trong khi ông chủ vội vã bỏ đi ngược con đường về phía đại sảnh.

Hơn lúc nào hết, giờ đây George-Gà những muốn giá cuộc đụng độ gay gắt với Matilda đừng xảy ra. Giờ đây, ông quyết định tốt nhất là cứ giữ kín điều bí mật đắc ý của mình để cho Matilda, bà mẹ Kizzy của ông và cả gia đình, khi biết mình được tự do, sẽ hoàn toàn bị bất ngờ một cách tuyệt đối. Tuy nhiên, tâm tư như muốn bung ra với điều bí mật đó, mấy lần ông suýt ngỏ với Tom, song cứ đến phút cuối cùng, ông lại thôi, vì mặc dầu đã là người lớn hẳn hoi Tom vẫn gần gũi cả mẹ lẫn bà đến mức có thể kể lại với họ đồng thời bắt họ thề giữ kín, thế là lộ bét. Lại nữa, làm thế sẽ có thể khuấy động trong bọn họ một vấn đề rất bầy nhầy là, theo lời ông chủ nói, họ sẽ phải bỏ chị Sarah, dì Malizy, và bác Pompey ở lại, mà những con người này có khác nào gia đình thân quyến họ.

Cho nên suốt những tuần chờ đợi, George-Gà, tù hãm với điều bí mật của mình, đành dốc hết tâm lực, vùi đầu vào việc rèn giũa đến mức hoàn hảo tuyệt đối tám con gà chọi chung tuyển hiện đang yên ổn trong lồng đằng sau ông và ông chủ Lea, trong cỗ xe thổ mộ tự chế đồ sộ đang lăn bánh trên con đường cô quạnh xuyên qua đêm tối. Chốc chốc, George-Gà lại tự hỏi không biết ông chủ Lea trầm lặng một cách khác thường này đang nghĩ gì.

Đến rạng sáng, trong ánh ban mai, họ trông thấy một đám người rất đông và lộn xộn; mặc dầu còn sớm thế, đám này chẳng những đã đứng chật kín trường gà (fighting area), mà còn tràn sang cả một đồng cỏ bên cạnh, tại đó chẳng bao lâu đã ùn ùn những xe thổ mộ (wagon), xe song mã (carriage), xe một ngựa (buggy), xe thồ (cart) cùng với những chú la và ngựa khịt mũi ầm ĩ.

“Tawm Lea!” Một tốp dân nghèo gọi to khi vừa trông thấy ông chủ từ cỗ xe đồ sộ trèo xuống. “Cho họ biết tay, Tawm!”. Đang khi chỉnh lại chiếc mũ quả dưa đen của mình, George-Gà nhìn thấy ông chủ thân ái gật đầu với họ, song vẫn tiếp tục đi thẳng. Ông biết ông chủ phân vân giữa bối rối và tự hào, trước danh tiếng của mình trong đám dân nghèo. Thực vậy, sau nửa thế kỷ ở vai trò sư kê, ông chủ Lea đã thành một huyền thoại ở bất kỳ nơi nào có đá gà, vì ngay cả ở cái tuổi bảy mươi tám, bản lĩnh thả gà (handle) đá trường của ông dường như vẫn không sút giảm.

George-Gà chưa bao giờ nghe thấy một hỗn tấu của những tiếng gáy inh ỏi đến như thế, trong khi ông bắt đầu tháo dỡ đồ lề để vào cuộc. Một nô lệ luyện gà, đi qua dừng lại, nói cho ông biết là trong đám đông, có nhiều người đã đi nhiều ngày từ các bang khác tới, thậm chí cả từ Florida. Vừa nói chuyện vừa liếc mắt ngó quanh, George-Gà thấy khu vực thường lệ dành cho khán giả đã mở rộng hơn gấp đôi, vậy mà đã chen chúc những người đến xí chỗ. Trong số những người liên tục đi qua chỗ xe đỗ, ông thấy những khuôn mặt lạ lẫm, cả da trắng lẫn da đen, cũng như những khuôn mặt quen thuộc và ông lấy làm hãnh diện khi nhiều người thuộc cả hai chủng tộc, khẽ huých đồng bạn và thì thầm, hiển nhiên là đã nhận ra ông.

Sự lao xao phấn khích của cái đám hổ lốn ấy càng dâng cao hơn nữa khi ba quản trường (judge) ra sới (cockpit) và bắt đầu đo đạc, đánh dấu các mức (starting lines). Một tiếng lao xao khác nổi lên khi một con gà chọi của ai đó xổng ra và lồng lộn tấn công mọi người trên đường chạy của nó, thậm chí làm một con chó kêu oăng oẳng, mãi cho đến lúc nó bị dồn vào một góc và bắt lại. Và cứ mỗi khi thấy và nhận ra bất kỳ ai trong số những sư kê nổi tiếng trong vùng - đặc biệt số còn lại trong tám người sẽ đấu với các ông chủ đăng cai, Jewett và Russell - tiếng ồn ào của đám đông lại rộ lên.

“Tôi chưa bao giờ thấy người Anh nào cả, còn ông?” George-Gà nghe hóng thấy một tay da trắng nghèo hỏi một người khác, tay này đáp là mình cũng vậy. Ông cũng nghe người ta nói về sự giàu có của tay người Anh tước vị này, rằng không những ông ta có một gia sản khổng lồ ở nước Anh, mà còn nắm giữ nhiều tài sản ở những nơi gọi là Scotland, Ireland và Jamaica nữa. Và nghe nói ông chủ Jewett đã hãnh diện khoe với bạn bè là vị khách sẵn sàng cho gà của mình đá bất kỳ lúc nào, ở bất kỳ đâu, trước bất kỳ đối thủ nào, với bất kỳ khoản tiền độ nào.

George-Gà đang băm nhỏ mấy quả táo để cho gà ăn thì đột nhiên tiếng ồn ào của đám đông rộ lên thành tiếng gào thét--và đứng vội lên trong xe, ông nhận ra chiếc xe ngựa có mái che (canopied surrey) được điều khiển bởi bác tài da đen mặt luôn lạnh lùng của ông chủ Jewett đang tiến lại gần. Đằng sau là hai ông chủ đại phú mỉm cười và vẫy tay với đám đông, vốn đổ ra dày đặc xung quanh họ đến nỗi đôi tuấn mã tương xứng với cỗ xe phải chật vật mới tiến lên được. Và theo sau không xa là sáu chiếc xe thổ mộ, chất đầy những chuồng gà cao ngất, chiếc đầu do gã da trắng luyện gà cho ông chủ Jewett điều khiển; ngồi cạnh gã này là một người da trắng gầy gò, mũi nhọn mà George-Gà nghe lỏm thấy một người đứng gần đó bảo rằng tay người Anh giàu có, tước vị đã đưa qua đại dương chỉ cốt để chăm nom đàn gà của ông.

Nhưng bản thân nhà quý tộc người Anh thấp tè, vóc người chắc nịch, da dẻ đỏ au và ăn vận kỳ cục mới là trọng tâm chú ý của đám đông xung quanh, khi ông ta sánh đôi cùng ông chủ Jewett trong xe, cả hai đều có mẽ của bậc yếu nhân, thậm chí quý tộc nữa, tay người Anh coi bộ còn tỏ ra tí chút khinh khi và kiêu kỳ đối với đám đông chen vai thích cánh dưới đất.

George-Gà đã dự quá nhiều cuộc chọi gà, nên ông quay về với công việc của mình là xoa bóp chân và cánh cho lũ gà nhà, biết chắc qua kinh nghiệm rằng những âm thanh khác nhau của đám đông sẽ mách bảo ông về mọi thứ đang diễn ra, mà không cần phải nhìn. Chẳng mấy chốc, một trọng tài hô to để dẹp mọi tiếng hò hét, huýt sáo và tranh cãi ầm ĩ, chứng tỏ nhiều người trong đám đã nốc say bí tỷ.

Rồi ông nghe thấy thông báo đầu tiên: “Ông Fred Rudolph ở Williamstown đá con gà điều (red) của mình với con chuối bông (speckled gray) của ngài C. Eric Russell từ nước Anh”.

Rồi: “Cho gà cắn mổ! (bill)”.

Và rồi: “Thả!” (pit) và tiếng hò reo của đám đông tiếp theo là một sự im lặng kinh hãi đột ngột, cho ông biết rõ như thể ông đang chứng kiến bằng mắt, rằng con gà của tay người Anh đã chiến thắng một cách mau lẹ. Trong khi mỗi người trong số tám chủ gà thách đấu lần lượt xuất năm con của mình để chọi xen kẽ với một con hoặc của ông chủ Jewett hoặc của vị khách người Anh, George-Gà chưa bao giờ nghe thấy tiếng hàng xáo (sidebetting) om sòm như thế trong đời và các trận đấu trong sới thường được cáp (match) thông qua đấu khẩu giữa đám đông cùng tiếng trọng tài (referee) hô hào im lặng. Thỉnh thoảng, tiếng ồn ào của đám đông mách bảo George-Gà bận rộn biết rằng cả hai con cùng bị tang (hurt) nặng tới mức trọng tài cho ngừng đá để các chủ gà chữa chạy (doctor) cho chúng trước khi trận đấu tiếp tục. Bằng vào một cách gào rú đặc biệt của đám đông, George có thể nói đúng những lần hiếm hoi gà của một trong hai nhà phú hộ bị thua, và ông bứt rứt tự hỏi chừng bao nữa đến lượt ông chủ Lea. George đoán là các quản trường phân định thứ tự của các đấu thủ bằng cách bốc thăm những mảnh giấy ghi tên của họ đặt trong một cái mũ.

Ông cũng muốn xem ít ra là vài trận đấu cụ thể, song còn biết bao chuyện phải lo! Ông không thể ngừng xoa bóp, dù chỉ một lúc. Ông thoáng nghĩ đến món tiền kếch xù, một phần trong đó là những năm ăn nhịn để dành của mình, mà ông chủ chỉ việc đợi để cáp trên chính những con gà đang được ông nhẹ nhàng lần ngón tay nắn bóp từng bắp thịt. Mặc dù sẽ chỉ có năm con được chọn ra đấu, nhưng không thể đoán được là năm con nào, nên cả tám con đều phải ở trong tình trạng tuyệt hảo về điều kiện thể chất và mức độ sẵn sàng. George-Gà không mấy khi cầu nguyện trong đời, nhưng giờ đây ông đang làm điều đó. Ông cố hình dung nét mặt Matilda sẽ ra sao, khi thoạt tiên ông trở về và ném vào lòng bà món tiền chí ít cũng đã tăng gấp đôi, rồi sau đó, khi ông đề nghị bà tập hợp cả gia đình lại để báo tin là họ đã được TỰ DO.

Rồi ông nghe thấy trọng tài hô: “Năm con gà thách đấu tiếp theo được sở hữu và thả bởi ông Tom Lea ở quận Caswell!”.

Tim George nhảy thót đến họng! Chụp chiếc mũ quả dưa chặt hơn trên đầu, ông nhảy xuống xe, biết là bây giờ ông chủ sắp đến chọn con đầu tiên.

“Taaaaawm Lea!”. Chùm lên tiếng ồn ào của đám đông, ông nghe thấy đám dân nghèo hò reo tên